Cây Nhàu
Tên khoa học: Morinda citrifolia L., họ Cà phê (Rubiaceae).
Tên khác của cây nhàu: Cây ngao, Nhầu núi, cây Giầu
Mô tả: Cây nhỡ hay cây gỗ, hoàn toàn nhẵn. Lá hình bầu dục rộng, ít khi bầu dục thuôn, có góc ở gốc, có müi nhọn ngắn, nhọn hoặc tù ở chóp, dài 12-30cm, rộng 6-15cm, bóng loáng, dạng màng. Hoa trắng, hợp thành đầu, đường kính 2-4cm. Quả nạc, gồm nhiều quả mọng nhỏ, màu vàng lục nhạt, bóng, dính với nhau, chứa mỗi cái 2 hạch có 1 hạt. Hạt có phôi nhü cứng.
Thành phần hoá học: Anthranoid: morindon, morindin, morindadiol, soranjidiol, acid rubichloric, alizarin a-methyl ether và rubiadin 1-methyl ether.
Công dụng*:
(Theo "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của cố Giáo sư Tiến sĩ khoa học Đỗ Tất Lợi)
­ Rễ nhàu: Là vị thuốc trước kia được sử dụng nhiều ở các tỉnh phía Nam, chủ yếu dùng chữa bệnh cao huyết áp. Hằng ngày dùng 10­20g rễ, sắc nước uống thay trà trong ngày. Sau chừng 15 ngày sẽ thấy kết quả. Nhưng phải uống tiếp tục 2­3 tháng liền sau đó tiếp tục uống với liều giảm xuống. Dân gian còn dùng rễ thái nhỏ, sao vàng ngâm rượu, uống chữa xương khớp nhức mỏi, đau lưng (một số nơi dùng quả nhàu non, thái mỏng sao khô thay thế rễ, cũng có tác dụng). Ngoài ra, rễ nhàu còn được dùng để nhuộm màu đỏ quần áo, vải lụa.
­ Quả nhàu: Dân gian có kinh nghiệm dùng quả nhàu ăn với muối, giúp dễ tiêu cơm, nhuận tràng, có tác dụng điều hòa kinh nguyệt, trị băng huyết, bạch đới, đau gân xương, đái tháo đường; nướng chín ăn để chữa đi lỵ.
­ Lá nhàu: Giã nát, đắp chữa mụn nhọt, làm chóng lên da. Sắc uống chữa lỵ, đi ngoài, chữa sốt và làm thuốc bổ. Liều dùng 8­10g sắc với 500ml nước, chia làm 2 lần uống trong ngày (chữa những người hay nhức đầu chóng mặt). Lá nhàu còn dùng nấu canh lươn để ăn cho bổ.
Thí nghiệm dược lý trên động vật thí nghiệm từ nhiều năm trước đã cho thấy, rễ nhàu có một số tác dụng:
  • ­ Nhuận tràng nhẹ và lâu dài;
  • ­ Lợi tiểu nhẹ;
  • ­ Làm dịu thần kinh giao cảm;
  • ­ Hạ huyết áp;
  • ­ Độ độc không đáng kể và không gây nghiện.
Kết quả nghiên cứu những năm gần đây cho thấy:
­
  • Vỏ rễ nhàu chứa moridon, acid rubicloric và một số hợp chất có tác dụng hạ huyết áp mạnh và kéo dài. Ngoài ra còn có tác dụng ức chế nhẹ đối với hệ thần kinh trung ương.
  • Dịch quả nhàu chứa chất damnacanthal có tác dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thư do làm giảm lượng máu tới khối u. Dịch chiết quả nhàu làm giảm sự tiết dịch của niêm mạc dạ dày, tá tràng, rất tốt cho trường hợp viêm dạ dày thể đa toan hoặc trường hợp trào ngược dịch dạ dày, viêm phế quản, hen suyễn; các bệnh tự miễn: viêm khớp dạng thấp, vảy nến, tiểu đường týp 2, bệnh luput ban đỏ,
  • bệnh nhiễm khuẩn, viêm gan mạn tính, ...
  • ­ Cao lỏng rễ nhàu có tác dụng giảm đau, chống viêm, hạ đường huyết.
Như vậy có thể thấy, nhàu là một vị thuốc rất đa năng, có thể sử dụng để chữa nhiều chứng bệnh phổ biến hiện nay. Nếu có điều kiện các bạn hãy trồng cây này trong vườn nhà.
Một số bài thuốc tham khảo từ Lương Y Hư Đan
1. Chữa huyết áp cao: rễ nhàu 30-40g/ngày, sắc uống thay nước chè, sau 2 tuần là có kết quả, sau đó giảm bớt liều, uống liên tục 2,3 tháng.
2. Nhức mỏi tay chân, đau lưng: 
Dùng rễ nhàu ngâm rượu, với tỷ lệ 10% uống. Để tận dụng dược liệu, có thể đem rễ nhàu sấy khô, tán thô, rồi mới ngâm rượu; sau 3­4 tuần chiết lấy dịch ngâm lần thứ nhất, ngâm tiếp lần thứ hai (giảm lượng rượu xuống chỉ bằng nửa lần ngâm đầu), sau 2­ -3 tuần chiết lấy dịch; trộn đều dịch ngâm của 2 lần, để lắng, lọc bỏ cặn. Ngày uống 2­- 3 lần, mỗi lần 20­ đến 30ml trước bữa ăn.
3. Chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt: lá nhàu tươi 3-6 lá tươi rửa sạch nấu với 500ml nước còn 200ml chia 2 lần uống/ngày. Uống liên tục 2-5 ngày.
Chú ý: – Một số cây chi Morinda cüng được gọi là cây Nhàu. – Nước ta đã sản xuất được một số chế phẩm từ quả Nhàu dưới các dạng bào chế khác nhau.
Nguồn: Thuốc vườn nhà