CỎ MỰC

Cỏ mực hay dân gian còn gọi là cây Nhọ Nồi rất dễ tìm trong vườn nhà đặc biệt vùng ngoại thành, nơi có đất ẩm và bóng mát. Tuy là loại cây không được xếp vào loại quý hiếm, nhưng Cỏ mực có nhiều dược tính tốt dùng phòng và trị được nhiều dạng bệnh .

1. MÔ TẢ

  • Tên khác: cỏ Nhọ Nồi, Hạn liên thảo; Tên nước ngoài: white eclipta, Dyer’sweed (Anh).
  • Tên khoa học: Eclipta alba (L.) Hassk.,Họ: Cúc (Asteraceae)
  • Theo Y học cổ truyền: Cỏ mực có vị ngọt, chua, mặn, tính mát vào kinh Thận, Can.
  • Thành phần hoá học: chứa các dẫn chất thiophen và nhiều dẫn xuất thienyl, terthienyl aldehyde ecliptal (Das Binayal, Chakravarty-CA. 116, 1992,1027094). Dẫn chất coumestan là wedelolacton, stigmasterol và sitosterol bên cạnh chất dimethyl wedelolacton có tác dụng bảo vệ gan. Ngoài ra còn có glucosid, triterpen glycoside,…Độc tính rất thấp, có giới hạn an toàn rộng [1].

2. GIÁ TRỊ Y HỌC

2.1. Hoạt chất chính và tác dụng dược lý:

Số tt Hoạt chất Tác dụng dược lý
1 Wedelolactone Giải độc gan, Kháng khuẩn, ức chế Trypsin, giải độc tố
2 Eclalbosaponins Đẹp tóc, Chống tăng sinh tế bào, kháng giardia,
3 Demethylwedelolactone Giải độc gan, cầm máu, kháng độc tố, nhuộm màu.
4 Dasyscyphin C Kháng virus, kháng ung thư
5 Eclalbatin Antioxidant
6 Ecliptalbine, verazine Hạ cholesterol, giảm đau

Độc tính: liều gấp 5 – 80 lần liều thường dùng vẫn không tìm thấy độc tính [2].

2.2. Các tác dụng dược lý đã được nghiên cứu của tác giả nước ngoài [Pubmed]:

  • Bảo vệ gan: qua nghiên cứu trên chuột bị gây độc bởi CCL4 và cho uống nước chiết xuất từ lá Cỏ mực đã giúp giảm tỉ lệ tử vong từ 77% xuống còn 22% [2]. Tác giả cho rằng nhờ vào chất wedelolactone [1] một flavonoid có trong Cỏ mực đã bảo vệ gan. Nên Cỏ mực hiện được dùng và có mặt trong một số chế phẩm sử dụng trị chứng vàng da, viêm gan (do rượu, virus).
  • Kháng khuẩn: một trong chỉ định lâu đời nhất của Cỏ mực là trị chứng nhiễm trùng. Nghiên cứu mới đây trên 9 chủng vi khuẩn khác nhau, đã nhận thấy Cỏ mực có tác dụng kháng cả chủng thông thường và nguy hiểm như staphylococcus aureus and E. coli [3].    
  • Chống đau: sử dụng theo Ayurveda dùng lá tươi đắp trực tiếp lên răng đau hoặc vết loét ở lợi cho thấy tác dụng giảm đau rõ. Một vài test trên chuột, đánh giá tác dụng giảm đau tương tự codein và aspirin [4]. Một số nghiên cứu khác cho rằng kết quả giảm đau của Cỏ mực do thành phần alkaloid tan trong cồn [5].
  • Kích thích tiêu hoá: uống Cỏ mực có tác dụng kích thích tiêu hoá chống tình trạng táo bón và khó tiêu.
  • Loãng đờm, chống viêm đường hô hấp: chống tiết chất nhày và gây loãng đờm, điều trị chứng ho, sung huyết đường hô hấp do virus và vi khuẩn.
  • Cầm tiểu máu, giảm đạm niệu: Cỏ mực có tác dụng gây tăng tiết nước tiểu, điều hoà co bóp bàng quang. Hạn chế một số biểu hiện do viêm bàng quang gây ra [6].
  • Một số tác dụng dược lý khác: tốt cho tóc (tóc mọc nhanh vì Cỏ mực kích thích các nang tóc trên thực nghiệm [7]); tốt cho thị lực nhờ vào lượng β-carotene cao trong Cỏ mực (một Antioxidant mạnh) có tác dụng phòng ngừa các bệnh thoái hoá mắt như đục thuỷ tinh thể [8]; Tốt tim mạch: ổn định huyết áp, giảm cholesterol [8]; hạn chế sự phát triển một số tế bào ung thư trên thực nghiệm [9]; bảo vệ răng – lợi do tác dụng kháng khuẩn.

3. KINH NGHIỆM SỬ DỤNG LÂM SÀNG:

  • Tác dụng chống xuất huyết trong trường hợp xuất huyết có sốt như sốt xuất huyết Dengue. Cỏ mực là thành phần chủ lực trong các bài thuốc điều trị bệnh sốt xuất huyết Dengue bằng YHCT, đặc biệt trong bài Toa thuốc căn bản [Bs. Nguyễn Văn Hưởng sưu tầm].
  • Qua theo dõi một số trường hợp viêm cầu thận, hội chứng thận hư nhiễm mỡ: hồng cầu và đạm niệu từ giảm đến khỏi sau khi uống chế phẩm có Cỏ mực [Bs Trần Văn Năm].

4. LƯU Ý KHI SỬ DỤNG:

  • Dù chưa ghi nhận độc tính trên thực nghiệm và lâm sàng, tuy nhiên cẩn thận khi sử dụng cho phụ có thai và cho con bú.
  • Một vài người bị viêm loét dạ dày chưa ổn định có thể bị phản ứng cồn cào, xót thượng vị khi uống liều cao và lúc đói.

Tài liệu tham khảo:

[1] Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam tập II, tr. 464 – 467.

[2] Viện Dược liệu và Bộ môn Dược lý Đại học Y Hà Nội, 1961.

[3] Nguồn internet:

(1)  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/11883149
(2)  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/725927
(3)  http://ann-clinmicrob.biomedcentral.com/articles/10.1186/1476-0711-10-21
(4)  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/15022160
(5)  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/22556819
(6)  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17472478
(7)  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/19481595
(8)  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/17472478
(9)  http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21575697
(10)http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/21771410

Bs. Trần Văn Năm