Kiến thức bệnh lý hệ xương-khớp

Như đã biết, các bệnh về xương-khớp gây ra sự đau đớn, khó khăn vận động cho những ai mắc phải. Kiến thức y học được viết một cách rất dễ đọc và dễ hiểu dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về cấu tạo hệ xương-khớp trên cơ thể, từ đó lý giải nguyên nhân gây ra các bệnh xương-khớp thường gặp ở người ngoài 45 tuổi. Hãy đọc bài viết một cách cẩn thận bạn sẽ rút ra được cách ngăn chặn bệnh xương-khớp trước khi chúng tìm bạn.


  1. Vai trò của khung xương:
  • Làm trụ đỡ cho cơ thể khi đứng, ngồi, đi lại, lao động, chơi thể dục, thể thao…
  • Là một “ngân hàng” quan trọng của cơ thể: dự trữ, phân phối và điều chỉnh chất khoáng: calcium, phosphorus. Đặc biệt quan trọng tuỷ xương là nơi sản sinh ra tế bào máu.
  • Tạo nên vóc dáng và bảo vệ các cơ quan trọng yếu: não, tuỷ, tim, gan, phổi, thận…

Nhưng nếu thiếu sự hiện diện của: cơ, dây chằng, khớp xương, khung xương sẽ không thể hoàn thành các nhiệm vụ kể trên:

  • Khớp là nơi gặp nhau của xương, giúp xương dễ dàng thực hiện việc di chuyển;
  • Nơi ổ khớp, xương không gắn trực tiếp với nhau mà một lớp đệm gồm:
    • Sụn
    • Dịch khớp
    • Màng hoạt dịch bao quanh khớp.
  • Cơ cung cấp lực và sức giúp cơ thể di chuyển;
  • Sự phối hợp động tác được trực tiếp điều khiển bởi não nhưng sự phối hợp này sẽ không hoàn chỉnh nếu cơ – xương – khớp bị bệnh.
  1. Cơ khớp thay đổi gì khi tuổi cao?
  • Khối xương hay mật độ khoáng của xương bị giảm, đặc biệt ở phụ nữ sau mãn kinh do xương bị giảm chollagen nên Calci và phosphorus không có chỗ bám.
  • Điệu bộ và dáng đi thay đổi đồng thời với sự thay đổi ở tóc và da;
  • Cột sống được cấu tạo bởi các xương đốt sống, giữa mỗi đốt sống là một lớp gel gọi là đĩa đệm. Khi có tuổi, thân đốt sống trở nên ngắn và đĩa đệm mất dần mất chất dịch và trở nên mỏng hơn.
  • Mất chất khoáng nên vỏ xương trở nên mỏng hơn, cột sống sẽ bị còng và gù. Đốt sống do lão hoá và do sử dụng quá lâu nên hình thành gai xương.
  • Cung bàn chân trở nên phẳng gây giảm chiều cao.
  • Các xương dài ở chân và tay, mặc dù dòn hơn do mất chất khoáng nhưng không ảnh hưởng đến chiếu dài. Việc này, gây cho tay và chân có cảm giác trông dài hơn so với chiều cao.
  • Khớp trở nên cứng và giảm dẽo dai, dịch khớp giảm nên mặt khớp dễ cọ sát vào nhau nên dễ bị trầy sướt đặc biệt ở người thừa cân. Chất khoáng có thể lắng đọng chung quanh khớp (gai xương), điều này thường thấy ở khớp gối, vai.
  • Khớp háng và khớp gối có thể bắt đầu mất dần sụn khớp, khớp ngón tay mất sụn và xương dày nhẹ, thường gặp ở nữ hơn.
  • Khớp cổ chân ít thay đổi theo tuổi.
  • Khối nạc giảm, nên teo cơ, khả năng co giãn sợi cơ cũng thay đổi nên khả năng vận động, sự phục hồi sức cơ sau vận động cũng giảm theo tuổi.     
  1. Cấu tạo của xương:

Xương được cấu tạo bởi 2 thành phần chính: phần hữu cơ và vô cơ.

  • Hữu cơ: các tế bào xương (non trẻ, kém bền vững); Huỷ cốt bào (có nhiệm vụ phá huỷ các tế bào xương già cổi); Tạo cốt bào (tạo ra các tế bào xương).
  • Vô cơ: các chất khoáng, chủ yếu dạng hợp chất calcium (calcium carbonate, calcium phosphate khi được gắn vào các tế bào xương thì biến thành các tinh thể không hoà tan hydroxyl apatide có 10 ion calci và 6 ion phosphate. Chất hydroxyl apatide sẽ vô cơ hoá các tế bào tiền xương , biến đổi chúng thành các tế bào xương thực thụ (hoàn chỉnh) gọi là tế bào xương đã được vô cơ hoá, chính các tế bào này mới đủ khả năng tạo nên một khung xương khoẻ mạnh, đủ sức cho cơ thể duy trì dáng đi, điệu bộ bình thường.
  1. Cấu tạo khớp: dựa vào tầm hoạt động của khớp, khớp được chia 3 loại:

Khớp bất động (synarthroses), Khớp bán động (amphiarthroses), khớp động (diarthroses).

Cấu tạo khớp và tầm quan trọng của khớp:

Dây chằng, gân, bao khớp với màng hoạt dịch lót bên trong. Trong đó, dây chằng có tác dụng như những dải băng co giãn, có nhiệm vụ gắn kết các xương với nhau khi cơ thể vận động; cơ co duỗi làm giúp khớp chuyển động; gân nối xương vào cơ thể để chuyển sức co của cơ vào xương; bao khớp tiết dịch bôi trơn giúp khớp hoạt động dễ dàng và cung cấp chất bổ dưỡng cho sụn.

Sụn đóng vai trò lớp đệm bảo vệ, giúp giảm chấn động và tránh sự cọ xát của 2 đầu xương khi khớp cử động, làm trơn bề mặt khớp, ngăn cản hay phân tán lực (stress) lên bề mặt sụn, bảo vệ đầu xương.

Sụn khớp là là lớp mô trong suốt, vừa cứng vừa bền dai nhưng đàn hồi tốt, được cấu tạo từ hai thành phần chính là tế bào sụn và chất cơ bản.

Tế bào sụn: không sinh sản và tái tạo sau tuổi trưởng thành, không có tế bào mới thay thế khi chết đi. Chất cơ bản (chất nền) có thành phần quan trọng nhất là collagen type 2. Do sụn khớp không chứa mạch máu hay các đầu dây thần kinh nên không được máu nuôi trực tiếp mà chỉ tiếp nhận dinh dưỡng qua cơ chế thẩm thấu nhờ tổ chức xương dưới sụn, màng hoạt dịch và dịch khớp. Vì vậy, sụn rất dễ bị thoái hoá âm thầm theo thời gian mà không có dấu hiệu cảnh báo.

  1. Các loại bệnh xương khớp thường gặp thường gặp:
  • Viêm xương khớp, thoái hoá khớp, thoái hoá cột sống
  • Loãng xương
  • Viêm đa khớp dạng thấp
  • Bệnh đĩa đệm cột sống…
  1. Phòng ngừa và trị bệnh:

Nguyên tắc:

  • “Bắt đầu từ khi còn trẻ”;
  • “Trị bệnh khi bệnh chỉ là mầm mống”;
  • “Thuốc tốt nhất là thuốc do nhà máy sản xuất thuốc của cơ thể”
  1. Biện pháp:
  • Tập luyện thể dục:

Đều đặn, không quá sức: Dưỡng sinh, Khiêu vũ, yoga, Taichi, đi bộ, bơi lội…;

  • Thái độ tinh thần:

Tư duy tích cực, hạn chế stress, sống lạc quan, thư giãn, thiền định;

  • Kiêng chất kích thích:

Hạn chế rượu bia, nói không với thuốc lá.

  • Thực phẩm:

Sạch – chất lượng: sữa, rau củ quả tốt cho hệ xương khớp: có chứa đủ chất đạm (động hoặc thực vật, động vật ít chân tốt hơn động vật nhiều chân) chất khoáng (calcium, magnesium, phosphorus), vitamin (D, nhóm B, A…), chất béo (thực vật tốt hơn động vật), đủ nước, giảm muối, ít đường.

  • Thuốc:

Khi có sưng, đau, giới hạn vận động…phải dùng thuốc. Tuy nhiên, thuốc Đông hay thuốc Tây hoặc phối hợp cả hai tuỳ vào loại bệnh, giai đoạn bệnh (nên có tham khảo ý kiến thầy thuốc):

    • Đông dược: dược liệu (Cây Bìm bịp, Hy thiêm, Kê huyết đằng, Cốt toái bổ, Cẩu tích, Thiên niên kiện, Cỏ xước, Đỗ trọng, Cây Nhàu…); Động vật: cao xương động vật (Trăn, Rắn, Ngựa, Cao xương Cá sấu…).
    • Tân dược: thuốc giảm đau kháng viêm, sử dụng khi có chỉ định của thầy thuốc.

Kết luận:

  • Để có được hệ xương khớp ít bệnh tật cần lao động, tập luyện, ăn uống hợp lý.
  • Muốn xương – khớp chắc khoẻ cần hệ cơ bắp khoẻ mạnh.
  • Lắng nghe cơ thể để phát hiện sớm bệnh và điều trị bệnh kịp thời không quá muộn.
  • Nên luôn nhớ rằng: “Sức khoẻ là sự hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần lẫn xã hội và Không chỉ là không có bệnh tật” (WHO 1947).

Bs Trần Văn Năm